Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Điểm chung của chủ nghĩa cộng sản và bán hàng đa cấp

Điểm 1: cả hai đều dựa vào mớ lý thuyết siêu tưởng, "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu", "ngồi chơi ko cũng có tiền vào".

Điểm 2: mớ lý thuyết này được tuyên truyền bởi bọn "tuyên giáo". Phải nói là khi nghe 1 cán bộ tuyên giáo hay 1 nhân viên bán hàng đa cấp thì mới biết nghệ thuật chém gió đã đến mức đăng phong tạo cực.

Điểm 3: đa phần những người đi theo cộng sản hay đa cấp đều là những người nông dân hay những người học vấn ko cao. Đa phần chứ ko hoàn toàn.

Điểm cuối cùng: cả thành phần lãnh đạo cộng sản lẫn đa cấp đều ăn sung mặc sướng, còn thành phần cấp dưới phải Nai lưng ra phục vụ thành phần lãnh đạo.

Tác giả: Dung Pham.

Có nhất thiết phải có một lãnh tụ?

Có lẽ người Việt Nam hiện nay coi việc mỗi đất nước có một lãnh tụ là điều đương nhiên, nhưng điều đó có thật sự chính xác?

Nếu chú ý, việc sùng bái cá nhân lãnh tụ dường như chỉ tập trung ở một vài quốc gia mà sự phát triển đất nước không cao.

Những nước đi đầu về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật…, những nước luôn được các quốc gia nhỏ lấy làm tấm gương để phát triển, ở những nước này lại hầu như không thấy sự hâm mộ tập trung vào một cá nhân.

Đầu tiên là Mỹ. Tổng thống Mỹ Barack Obama rất được hâm mộ, nhưng chủ yếu vì ông là người da màu đầu tiên nắm chức vụ này chứ chẳng phải vì quá xuất sắc so với những người tiền nhiệm.

Mới đây vị Tổng thống Mỹ đã nhắc khéo giới lãnh đạo châu Phi (vốn nổi tiếng về tham quyền cố vị) rằng ông yêu thích công việc này và hoàn toàn có thể làm thêm nhưng hiến pháp Mỹ không cho phép.

Không chỉ là luật pháp, thực tế nước Mỹ đúng là không cần một vị Tổng thống nào cầm quyền lâu dù người ấy có xuất sắc thế nào đi nữa. Tổng thống Mỹ cũng chỉ là người có nhiều quyền quyết định nhất chứ không thể một mình làm nên tất cả.

Vẫn còn những cơ chế quyền lực khác như Quốc hội để đảm bảo nền dân chủ của nước Mỹ và đảm bảo rằng mọi quyết định của người đứng đầu đất nước hợp với đa số những người đại diện nhân dân.

Nước Mỹ đã trải qua bao đời Tổng thống, cũng có nhiều ông nổi tiếng, nhưng chẳng có ông nào được cho là lãnh tụ vĩ đại để đem ra ca ngợi mọi lúc mọi nơi cả.

Sau khi Franklin D. Roosevelt – một trong những Tổng thống vĩ đại nhất qua đời khi đang làm nhiệm kỳ thứ 4, Mỹ ra luật người đứng đầu Nhà Trắng chỉ được nắm quyền tối đa 2 nhiệm kỳ.

Từ đó cứ đều đều ông 1 nhiệm kỳ, ông 2 nhiệm kỳ. Có ông xuất sắc, có ông kém hơn một chút. Nhưng nước Mỹ có thay đổi gì không? Chẳng có gì cả, vẫn dẫn đầu thế giới.

Quay sang Nhật. Nếu chỉ nhìn vào mật độ thay Thủ tướng thì nước này có thể bị đánh giá là bất ổn nhất thế giới.

Trước khi Junichiro Koizumi lên nắm quyền, Nhật Bản có 10 Thủ tướng trong 12 năm. Sau khi ông rời nhiệm sở, đất nước mặt trời mọc cũng có 6 người đứng đầu đất nước trong 6 năm. Đến nay mới có một người có thể tái đắc cử là đương kim Thủ tướng Shinzo Abe.

“Bất ổn chính trị” như thế nhưng Nhật vẫn là nền kinh tế hàng đầu thế giới. Ngay cả thời kỳ phát triển thần kỳ trước đây, người ta cũng không tìm ra một vị lãnh tụ có công lao to lớn nhất đối với đất nước Nhật để tôn làm thần thánh. Thành quả của nước Nhật là của một tập thể nhiều người xuất sắc.

Đức, Anh, Pháp, Ý, Canada… cũng vậy, sự phát triển của họ cũng không gắn liền với một tên tuổi cụ thể nào.

Singapore là một trường hợp hiếm hoi khi cố Thủ tướng Lý Quang Diệu được coi là người khai quốc công thần. Nhưng ở đây người ta cũng không dựng tượng tràn lan để “đời đời nhớ ơn” dù công lao của Lý Quang Diệu là không phải bàn cãi.

Các nước “chưa phát triển”

Các lãnh tụ vĩ đại đặc biệt phổ biến ở những nước kém phát triển hơn. Có thể kể ngay ra đây: Triều Tiên, Cuba, Việt Nam, Lào, Campuchia, Trung Quốc.

Ở Triều Tiên là cha con Kim Nhật Thành và Kim Jong Il, Cuba là Fidel Castro, Việt Nam là Hồ Chí Minh, Lào có Kaysone Phomvihane, Campuchia có Norodom Sihanouk, Trung Quốc có Mao Trạch Đông.

Đây phần lớn đều là những nước Xã hội Chủ nghĩa và đều nghèo cả. Trung Quốc có thể có tổng sản phẩm quốc nội lớn, nhưng bình quân đầu người còn thấp, phát triển nhanh nhưng không bền vững.

Có thể ai đó sẽ nói rằng, vì kém phát triển nên cần phải có những con người vĩ đại để làm chỗ dựa tinh thần và soi đường chỉ lối. Nghe thì cũng có lý nhưng thực tế những nước này đã trải qua gần nửa thế kỷ hòa bình mà không phát triển được nhiều.

Vì sao?

Thứ nhất: Các nước phát triển đều là những nơi tự do thông tin, nên bất kể nhân vật nào cũng được đánh giá theo nhiều chiều. Mà trên đời không ai hoàn hảo, nên một phần cũng vì lý do này mà các nước lớn ít sùng bái chính trị gia – một nghề luôn cần nhiều thủ đoạn.

Ngược lại, vì bị che dấu thông tin nên các nước nhỏ luôn cảm thấy lãnh tụ của mình vĩ đại hơn lãnh đạo nước lớn, dù khả năng nước nhỏ sản sinh ra người tài hơn nước lớn là không nhiều.

Thứ hai: Ở các nước phát triển, các học thuyết, hệ tư tưởng luôn phải được đổi mới, bổ sung, phát triển cho phù hợp với thời đại. Nên các nước này không bám lấy một hình ảnh nào mãi.

Những cá nhân đó nếu quả thật có vĩ đại thì cũng mất rồi, sau khi họ qua đời mà cứ bám vào quá khứ liệu có sáng suốt?

Tư duy của một người ở nửa thế kỷ trước liệu có còn thích hợp với thời hiện tại? Ở đây không có ý chê bai lãnh tụ, nhưng tầm nhìn của một con người nhìn chung cũng có giới hạn. Làm sao bắt một người phải thấy được tương lai của loài người trong 100 năm tới?

Điều này lãnh đạo các nước Xã hội Chủ nghĩa cũng thừa hiểu, nhưng họ cần một biểu tượng hoàn hảo để chống đỡ cho chế độ, để người dân luôn trong nỗi lo sợ bị người khác đánh giá là suy thoái đạo đức khi dám động đến tấm gương sáng ngời của lãnh tụ.

Hậu quả

Thực tế chứng minh, việc đề cao một cá nhân hầu như không ích lợi gì cho nhân dân và đất nước, nó chỉ tốt cho nhà cầm quyền muốn duy trì sự độc tài. Các nước Xã hội Chủ nghĩa đã thế, sau này lại thêm một số lãnh tụ thời hiện đại như Putin, Hugo Chavez... và đều không thể đưa đất nước tiến lên.

Những quyết định độc đoán không dựa trên ý kiến của một hội đồng hiếm khi mang lại kết quả tốt đẹp. Putin nóng đầu sáp nhập Crimea vào Nga, nhưng chỉ sau một thời gian đã cho thấy: đối đầu với phương Tây là một việc làm duy ý chí. Hugo Chavez quốc hữu hàng loạt những ngành kinh tế lớn để rồi bây giờ nền kinh tế nước này sụp đổ.

Phương Tây có thể chia rẽ, tranh cãi gay gắt về nhiều vấn đề, trong đó bao gồm cả phương cách đối đầu với kẻ thù, những cái đó luôn được trưng ra khiến cho các nước độc tài “luôn nhất quán trong mọi hành động” chê cười.

Nhưng về lâu dài, phần thắng luôn thuộc về phía “không đoàn kết” kia khi mà mỗi hành động của họ đều trải qua thảo luận và phe có nhiều sự hợp lý hơn luôn chiếm đa số, mọi thứ luôn được đặt lên bàn cân để tính toán kỹ lưỡng chứ không phải sau một phút bốc đồng hoặc chỉ vì một lý tưởng mù quáng.

Một khi đã quyết định chiến đấu với Nga là phương Tây đã suy tính đủ rồi, nên Putin không thể đương đầu lại.

Tóm lại, thời mà một cá nhân với quyền lực vô song quyết định tất cả đã xa rồi.

Truyền hình Việt Nam đang chiếu lại bộ phim “Tể tướng Lưu gù” vào 20h hàng ngày trên VTV2. Phim có đoạn Lưu Dung kịch liệt phản đối quyết định của Hoàng đế Càn Long khi vị vua cho xây dựng một ngôi chùa tiêu tốn 8 triệu lạng bạc trong lúc dân ở lưu vực sông Hoài đang đói kém vì lũ lụt, người chết đói đầy đường.

Chỉ với một lý lẽ: “Phật thì cần ở chùa, dân thì cần gạo ăn, bên nào cần hơn trẫm khắc tự biết” của Hoàng thượng, mọi lời kêu gọi của vị Tể tướng đều vô vọng. Cứ mỗi câu “Hoàng thượng, hãy lấy dân làm gốc!”, Lưu Dung lại bị hạ thêm vài cấp bậc, nhưng ông vẫn không ngừng lời cho đến lúc bị lột hết mũ áo, tống ra khỏi cung điện.

Vào thời đó, “kháng chỉ” là tội chém đầu và Lưu Dung may mà chỉ bị đuổi về quê, còn việc xây dựng thì vẫn cứ phải tiến hành vì thánh chỉ một khi đã ban ra là không thể thay đổi được.

Hiện tại ở Việt Nam cũng có một việc như vậy, chuyện tưởng chừng chỉ có ở những năm 1700, cách đây đã 3 thế kỷ.

Tác giả: Đức Thắng.

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Sự thật cái chết của Hoàng Cơ Minh, đảng trưởng Việt Nam canh tân cách mạng đảng, hay còn gọi là Việt Tân


Nhìn thấy Trần Hạo Nam xông vào tận hang ổ của mình ở biên giới Lào – Việt Nam, tả xung hữu đột giữa đám lâu la như chỗ không người, sau cùng từ từ tiến đến trước mặt mình, lão đại ma đầu Hoàng Cơ Minh, đảng trưởng đảng Việt Tân vẫn ngồi dạng háng trên trướng, nhếch mép, nói:

- Hừm, trúng phải 12 thành công lực của tuyệt kỹ “Việt Nam canh tân cách mạng đảng liên hoàn chưởng pháp” của ta mà ngươi vẫn chưa chết, ngươi cũng cứng mạng đó. Nhưng ngươi sẽ không có cơ hội thứ 2 đâu. Lần này ta sẽ không dùng chưởng với ngươi cho tốn sức, mà sẽ dùng cái này cho nhanh. Hãy đọc kinh đi, trước khi ta đưa ngươi về chầu trời.

Nói rồi, nhanh như chớp, lão rút súng ngắn, thứ vũ khí giết người tối tân nhất của thế kỷ 19 ra, nhằm giữa đầu Nam bóp cò.

- Đoàng!

- Chát!

Hoàng Cơ Minh trố mắt ra nhìn không chớp, khi thấy sau làn khói súng, Trần Hạo Nam vẫn đứng sừng sững, với 1 thứ vũ khí kỳ lạ, chưa từng thấy bao giờ trên tay.

- Chuyện… Chuyện gì xảy ra vậy? Ngươi vẫn còn sống ư?

Trần Hạo Nam nhếch mép, nói:

- Đấy mới chỉ là màn chào hỏi, chưa phải lever cuối cùng của ta đâu. Hôm nay ngươi sẽ phải đền tội, và sẽ phải nhường ngôi thiên hạ đệ nhất cao thủ cho Trần Hạo Nam này đấy.

Hoàng Cơ Minh cười gằn, nói:

- Mẹ cái thằng này, mày đùa dai quá đấy, để tao xem lá gan mày lớn bao nhiêu?

1 lần nữa, lão giơ súng nhằm giữa đầu Nam và “Đoàng!”

Nhưng, 1 lần nữa, 1 tiếng “Chát” khô khốc vang lên. Lần này thì Hoàng Cơ Minh nhìn rõ, 1 vật gì đó từ vũ khí kỳ lạ của Trần Hạo Nam bay ra với tốc độ và sức mạnh không kém gì vũ khí của mình. Kinh hoàng hơn, nó bay ra không phải để giết mình, mà để cản viên đạn của mình, với độ chính xác đến từng milimet.

Hoàng Cơ Minh khiếp sợ, chân đứng không vững, lảo đảo thoái lui từng bước, miệng lắp bắp:

- Ngươi… Ngươi…

Trần Hạo Nam ngửa mặt lên trời, nói:

- Cha, mẹ, các anh chị em có linh thiêng, thì hôm nay, xin hãy về đây xem con đòi lại công bằng cho mọi người.

Rồi chàng từ từ, từng bước 1 tiến đến trước mặt lão đại ma đầu.

- Ngươi còn muốn nói gì nữa không?

Hoàng Cơ Minh kinh hãi đến tột độ, ngã bệt xuống sàn nhà, bò giật lùi đến chân tường, run rẩy giơ súng lên, hết nhìn khẩu súng rồi lại nhìn Nam, với vẻ mặt thất vọng cùng cực, sau cùng lão giương nòng, nhằm giữa đầu Nam lần chót.

- Đoàng!

Viên đạn bay ra khỏi nòng, đi được nửa đường, cũng như những lần trước, lại bị 1 vật gì đó cản lại. Nhưng lần này khác hơn, vật đó không chỉ cản viên đạn, mà còn đẩy nó đi giật lùi, ngược trở lại nòng súng, làm vỡ cả khẩu súng, và thoát ra, găm xuyên qua sọ Hoàng Cơ Minh, sau cùng nó còn đủ sức làm thủng bức tường phía sau, xuyên thẳng xuống đất, không rõ bao nhiêu mét nữa.

Hoàng Cơ Minh chết mà không nhắm mắt.

Đó chính là 2 tuyệt kỹ “Xâu táo đại thiên pháp” và “Tay không quật ngã trực thăng UH-1 thần công” của 2 quái nhân K-pa Kơ-lơng và Bùi Minh Kiểm mà ta đã biết, đã được dung hòa làm 1 trong con người Trần Hạo Nam vậy.

Cũng như mọi bộ phim chưởng chúng ta từng xem, khi nhân vật chính giải quyết xong đám ma giáo thì mới thấy các cơ quan chức năng xuất hiện. Lần này cũng vậy, khi cộng sản Việt Nam đánh vào đến hang ổ, thì toàn bộ thủ hạ và cả Hoàng Cơ Minh đều đã chết từ lâu. Mùi máu tanh bốc lên lợm giọng, cùng ruồi muỗi bay tựa trực thăng. CSVN không tốn viên đạn nào, và sau đó tin tức Hoàng Cơ Minh cùng đồng bọn đã bị CSVN giết tràn ngập các mặt báo trong nước và hải ngoại.

Đó gọi là

Anh hùng khi đã ra tay
Trời kia cũng chuyển, đất này cũng tan
Huống chi 1 đại ma bang
Gây ngàn tội ác còn màng ai thương
Bây giờ giống lưỡi không xương
Có còn ngoắt ngoéo trăm đường nữa chăng?

Còn Trần Hạo Nam, người anh hùng đích thực của chúng ta nay ở đâu, làm gì, vợ con và bồ bịch ra sao, đợi hồi sau kể tiếp.

Các comments phản hồi trên facebook.

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1023015281051295&id=100000284971370

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

Hồ Chí Minh đã chiêu dụ Tạ Đình Đề như thế nào?

Lúc bấy giờ, ở nơi cục tràng, 2 tên La Hán còn sống sót dợm lách mình chuồn, xảy nghe 1 chuỗi cười cất lên giòn giã. Nội lực phát ra qua âm thanh đập ngay vào màng nhĩ, làm bọn thuộc hạ xiêu hồn lạc phách… Nhiều đứa chịu không nổi đứt mạch máu lăn ra chết tốt, số khác bịt tai vận công cố chống chọi lại tiếng cười. 2 tên trong bọn Thiết Chưởng Thập Điện La Hán vội vàng quỳ rạp lạy chào:

- Bọn tiện nhân xin kính chào chủ tịch! Bọn tiện nhân bất tài không cự địch nổi, xin chủ tịch chiếu luật gia hình!

Kẻ vừa xuất hiện là 1 người cao 6 thước mộc, tuổi trạc ngoại ngũ tuần. Thoạt nhìn ai cũng ngỡ đây là 1 vị hung thần ác sát: Mũi cao, mắt xếch, mày rậm, râu tóc cứng tựa rễ tre, mình vận giáp trụ toàn đồng đen, mảnh chiến bào đỏ chót có hình cờ đỏ búa liềm vàng chóe phất phơ theo gió, 10 phần lẫm liệt uy nghi, hung tàn sát thủ. Nếu xét qua tướng mạo và cung cách của hắn thì đúng là 1 đại cao thủ, song chẳng phải là kẻ thuộc giới giang hồ.

Quan sát hắn 1 lúc, Tạ Đình Đề cất giọng điềm đạm hỏi:

- Chẳng hay các hạ có phải là Hồ Chí Minh, đương kim chủ tịch nước VNDCCH?

Kẻ vừa đến, nhướng đôi mắt xếch nhìn Tạ Đình Đề, rồi nhíu đôi mày rậm, nói:

- Có thể hạ thủ Thiết Chưởng Thập Điện La Hán, đều là những vệ sĩ đã lãnh hội được những bí kíp võ công cái thế, cùng nội lực phi phàm của ta, thì trong thiên hạ, ngươi không phải là loại thích khách tầm thường. Nhưng, có điều ngươi nên biết, từng ấy thôi vẫn chẳng có ý nghĩa gì đối với ta cả.

Nghe đến đây, Tạ Đình Đề cả giận, quát to:

- Hay cho tên tướng giặc cuồng ngôn, ngươi không biết ta là ai mà dám buông lời nhục mạ. Ngươi có từng nghe nói đến Sát Cộng Kiếm Khách Tạ Đình Đề, anh hùng thiên hạ nghe đến tiếng ta là vỡ mật rồi hay chưa?

Hồ Chí Minh trố mắt ngạc nhiên:

- A ha, “Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”, nghe danh ngươi đã lâu, nay ngươi không mời mà đến, càng tốt cho ta, giờ sẽ chinh phục ngươi để làm vệ sĩ cho ta vậy.

Nghe những lời xem thường mình như vậy, Tạ Đình Đề nộ khí xung thiên, thét lớn:

- Ngươi hãy câm mồm lại! Để xem ai mới là chiêu dụ ai cho biết!

Liền rút soạt Hàn Nguyệt bảo kiếm, dựng đứng mũi lên trời, vận toàn chân lực, đồng thời thi triển bí kíp "Kim cang chiêu hồn kiếm ảnh". Trong phút chốc 1 quả cầu ánh bạc xuất hiện, bao phủ khắp châu thân, hàn khí lạnh toát cùng ánh kiếm lấp lánh lan tỏa sáng rực cục tràng. Đứng bên ngoài nhìn vào, tựa như phủ chủ tịch đang chứa cả ngàn vạn kim ngân châu báu cùng lúc phát sáng rực rỡ vậy.

Bọn thuộc hạ của Hồ Chí Minh đang tầng tầng lớp lớp vây đặc chung quanh, không đứa nào bảo đứa nào, đều bất giác hoảng sợ lùi hết cả lại, hàng trăm đứa buột miệng thốt lên với giọng kinh hoàng:

- Trời! Kim Cang chiêu hồn kiếm ảnh! Chúng ta chết không toàn thây rồi!

Hồ Chí Minh biến sắc, tháo lui liền mấy trượng. Lão buột miệng:

- Thật đáng ngạc nhiên! Ngươi cũng biết đến bí kíp vi diệu này ư?

Trong quả cầu bạc, tiếng cười của Tạ Đình Đề cất lên như pha lê vỡ vụn:

- Hahaha! Giờ ngươi mới biết thì đã quá muộn rồi. Hãy đọc kinh cầu nguyện mà về với 3 ông tổ Mác Ăng Lê của ngươi cho sớm.

Hồ Chí Minh cười to, nói:

- Ngươi vẫn không hiểu, “Kim Cang chiêu hồn kiếm ảnh” có thể vô địch, siêu hạng với ai, chứ gặp phải ta thì ngươi tới số rồi. Nhưng, nếu ngươi biết tôn sùng đại nghĩa của VNDCCH, thì điều kiện của ta rất đơn giản. Hãy quỳ xuống lạy ta 3 lạy, ta sẽ tha cho tội chết, và nhận ngươi làm tay sai thân tín. Còn nếu không, ngươi sẽ phải chết.

Dứt lời, lão bay lùi về phía sau 5 trượng có dư, bắt đầu vận thiên nguyên chân khí. Lão xuống tấn, hoành đôi cánh tay bắt chéo mấy bận, vận động toàn bộ chân nguyên Bấy giờ trông lão có vẻ như đã lùn hơn nãy cả thước mộc.

Có câu “Cao nhân tất hữu cao nhân trị”. Tạ Đình Đề không thể nào ngờ đối phương đang chuẩn bị sử dụng môn bí quyết "Vô cực khí công" là 1 trong những bí pháp thần sầu của thánh tổ Các Mác Cái Thế Kỳ Nhân, mà so với nó, “Kim Cang chiêu hồn kiếm ảnh” thật chẳng có ý nghĩa gì cả. Và, chỉ trong khoảnh khắc nữa thôi, tính mạng và danh tiếng dày công xây dựng bấy lâu nay của chàng kiếm khách hào hiệp của chúng ta, tất cả đều sẽ tan thành tro bụi…

Tạm đến đây đã, khi nào có hứng sẽ hạ phím gõ tiếp. :D

Các comments phản hồi trên facebook.

https://www.facebook.com/TheWindsOfCreation/posts/358081034381627?pnref=story

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Trung Quốc có thể dùng bao nhiêu lính đánh Việt Nam?

Khi mối nguy về một cuộc đụng độ quân sự Việt - Trung ngày một hiện hữu tỷ lệ thuận với sự hung hăng và dã tâm bành trướng Trung Hoa, đã đến lúc chúng ta ngồi đánh giá một cách khách quan, xem thực sự TQ có thể dùng bao nhiêu triệu lính tấn công Việt Nam, và xác suất thành công của hai phía ở mức nào.

Theo số liệu thống kê gần nhất, dân số TQ hiện có 1,33 tỷ người. Cơ cấu dân số đang già hóa với tốc độ ngày một cao. Số người trên 60 tuổi hiện chiếm xấp xỉ 17% dân số và ngày một tăng nhanh theo thời gian. Suất sinh do chính sách dân số ngặt nghèo suốt 3 thập niên, luôn dưới 1, và đang có xu hướng giảm. Số người dưới 17 tuổi của TQ cũng chỉ chiếm trên 16%. Dân số phân bố không đồng đều, khá thưa thớt ở lãnh thổ Tây Tạng (cũ) mà TQ xâm lược trái phép năm 58 và vùng Nội mông cướp đọat của người Mông Cổ. Ngược lại, tập trung đông cao độ tại các trung tâm kinh tế ven biển và phía Nam.

Đứng về mặt số học mà nói, nếu tổng động viên, TQ có thể huy động không dưới 20 triệu lính. Hiện tại quân đội TQ cũng đang có số lượng đứng đầu thế giới với hơn 2 triệu lính thường trực.

Đối mặt với họ, Việt Nam có một đội quân thường trực hơn 400 nghìn người, cộng với một lực lượng dự bị có thể tái tổ chức trong thời gian ngắn khoảng 3 triệu người.

Một cuộc chiến tổng lực nổ ra giữa hai bên, Việt Nam có trụ được trước biển người của Trung Quốc?

Nhìn vào lịch sử mà nói, trong các cuộc chiến tranh giữa hai bên, lần nào ưu thế số lượng cũng nghiêng lệch tuyệt đối về TQ. Theo sử liệu ghi nhận, thời Trần, Trung Quốc huy động 60 vạn quân xâm lược Việt Nam, đối địch lại, Hưng Đạo Vương có trong tay 20 vạn quân. Thời Minh, TQ mang sang 30 vạn quân, gồm cả các đạo quân tiếp viện đến sau, Lê Lợi vào lúc mạnh nhất có trong tay không quá 5 vạn lính. Thời nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị xua 20 vạn quân tiến chiếm Thăng Long, Nguyễn Huê mang 10 vạn tân binh mới tuyển ở Phú Xuân ra cự địch... Nếu nhìn xa hơn nữa vào các cuộc chiến thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, tương ứng với nhà Hán, Đường, Tống, Minh của TQ, tương quan quân sự trong các cuộc chiến cũng hoàn toàn giống thế. Tuy nhiên, phần thắng cuối cùng luôn thuộc về Việt Nam.

Gần như tuyệt đại bộ phận chiến cuộc, Việt Nam luôn dựa vào cuộc chiến nhân dân, dàn trải trường kỳ, phối hợp cường công chính diện khi thời cơ đến để giành phần thắng. Ngoại trừ duy nhất vị tướng tài ba lỗi lạc Quang Trung, khi tiến công thần tốc vỗ mặt đánh tan đạo quân xâm lược của Tôn Sĩ Nghị trong thời gian ngắn. Nhiều chuyên gia quân sự sau này nghiên cứu đều thấy sự giống nhau đáng ngạc nhiên về triết lý điều binh giữa Nguyễn Huệ và Napoleon, với lối tiến công quyết liệt, biết sử dụng hỏa lực một cách cực kỳ hợp lý và tài điều phối quân chuẩn xác trong các diễn biến chiến tranh.

Trở lại câu chuyện thực tại, sau 30 năm hòa bình, dân số Việt Nam tăng rất nhanh, gần như phủ kín mọi m2 lãnh thổ. Người Việt Nam cũng đã hoàn thành chỉ tiêu phá rừng trước thời hạn dự kiến 30 năm. Mật độ các thành phố mới tăng rất nhanh, đặc biệt là vùng Bắc Bộ, dự kiến sẽ là chiến trường chính một khi chiến tranh Việt - Trung nổ ra. Có thể nói, trong thời hiện đại ngày nay, với lãnh thổ đã được văn minh hóa nhiều của Việt Nam, không còn ưu thế để ẩn núp ngụy trang như thời chiến tranh với người Mỹ và người Pháp.

Năng lực vũ khí và khí tài quy ước giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay có chênh lệch, nhưng không có khoảng cách về thế hệ. TQ có vũ khí hạt nhân, nhưng không thể sử dụng. Đối chiếu kinh nghiệm chiến cuộc thời 1979, Việt Nam sử dụng 20 vạn lính ô hợp, chủ yếu là dân quân, du kích, tự vệ và một số đơn vị chính quy, đã chặn đứng và đánh quỵ đạo quân xâm lược 60 vạn của Đặng Tiểu Bình trong cuộc chiến chớp nhoáng Việt -Trung lần một. Đây là một thành tích đáng nể, nhưng lúc đó Việt Nam đang sở hữu một thế hệ cả dân lẫn lính thiện chiến khi kinh qua 30 năm chiến tranh ác liệt, còn TQ lúc đó chỉ có một đám lính man rợ có thừa mà năng lực tác chiến thì gần bằng không. Hiện nay, sau một thời gian dài lính tráng hai bên đều không trải qua thực chiến, cái gọi là kinh nghiệm chỉ còn là quá khứ, và chúng ta phải căn cứ vào thực tế trước mắt để ước đoán.

Một cuộc chiến tổng lực xảy ra, Miền Bắc Việt Nam sẽ rơi vào hỗn loạn. Sẽ có một cuộc đại di tản về phía Nam, trong lúc các lực lượng chiến đấu lo phòng giữ lãnh thổ. Việt Nam có thể vận dụng cấp thời ít nhất 20 vạn quân, trong lúc Trung Quốc, với năng lực cơ động hiện có, cũng chỉ có thể đưa tối đa 60 vạn quân vào tham chiến bước một. Mấu chốt thành bại nằm ở chỗ Việt Nam có chặn TQ lại được ở vùng biên giới phía Bắc như năm 79 hay không, nếu thành công, TQ sẽ sa lầy và chắc chắn thất bại.

Đây là một điều khá khó ước đoán, trong những năm vừa qua, do giàu có hơn và quản trị tốt, lính Trung Quốc được huấn luyện rất chu đáo, nhất là những thành phần thuộc các đơn vị đặc biệt. Lính Việt Nam được gọi nhập ngũ đều đặn hàng năm, nhưng chắc chắn không huấn luyện tốt như lính Trung Quốc.

Tuy nhiên, xét về tố chất, chính sách một con trong suốt 30 năm qua cũng biến vài thế hệ lính Trung Quốc hiện nay thành loại lính diễu binh: Trông rất béo tốt, múa võ rất đẹp, huấn luyện đi rất đều, hò hét rất to, nhưng đều là loại con một công tử bột và không có khả năng chiến đấu, động chảy máu là ngất xỉu.

Ngược lại, lính Việt Nam phải đi bộ đội đa phần thuộc những gia đình nghèo, đông con, độ lì và chịu khó chịu khổ cũng không kém là mấy những thế hệ cha anh từng tham gia chiến tranh 30 năm trước. Đám lính này khi quăng vào thử lửa đích thực, càng đánh sẽ càng lỳ. Chưa kể tới tố chất người Việt hễ nghe nói đến đánh Tàu là đều sôi máu vằn mắt.

Trung Quốc có hỏa lực vượt trội xét về số tăng, pháo, oanh tạc cơ và tên lửa đất đối đất. Ngược lại, Việt Nam có ưu thế về địa lợi khi chiến đấu chỉ với mục đích phòng thủ và có kinh nghiệm chiến tranh nóng hổi hơn. Trên thực tế, chênh lệch hỏa lực hiện tại giữa Việt Nam và Trung Quốc còn chưa bằng một phần nhỏ chênh lệch hỏa lực giữa Việt Nam và Mỹ trước đây (Mỹ từng giộng xuống Việt Nam ngót 7 tr tấn bom, ném mãi, sau chán đành bỏ cuộc rút quân về nước).

Khi xảy ra một cuộc chiến tổng lực, Trung Quốc không thể huy động quá một lực lượng 15 triệu lính tiến đánh Việt Nam, trong đó giao chiến trực tiếp không quá 1 triệu do giới hạn chiều dài chiến trường. Trung Quốc rất dễ lâm vào nội loạn một khi số lính huy động cho chiến tranh quá lớn. Trong khi đó, Việt Nam có thể huy động không ít hơn 10 triệu lính tình nguyện khi xảy ra chiến tranh với Trung Quốc, bởi nhắc đến đánh nhau với Tàu Khựa, mọi bất đồng về ý thức hệ, giai cấp, đẳng cấp giữa người Việt đều gần như được xóa bỏ toàn bộ.

Việt Nam có lợi thế lớn vì chắc chắn sẽ nhận được nguồn viện trợ vũ khí vô điều kiện từ Ấn Độ, Mỹ, Nhật, Nga... (Giống như TQ đang tuồn vũ khí vào Libi hiện nay cho Gaddafi). Bọn này không yêu Việt Nam, nhưng rất thích thú nếu TQ sa lầy, và người Việt thì một khi đã phải đánh nhau với Tàu thì không còn lựa chọn nào khác, phải bằng mọi giá kiếm lấy mọi nguồn hỗ trợ.

Miền Bắc Việt Nam gồm Hà Nội nhiều khả năng sẽ bị tàn phá nặng nề, chiến tranh càng kéo dài, tổn tất càng lớn. Chiến lược của Việt Nam ở phía Bắc chỉ có thể thiên về phòng thủ, kéo TQ vào trận thế sa lầy. Ngược lại, Việt Nam có ưu thế rõ rệt để tấn công ở phía Nam. Đến đây bọn chã sẽ thắc mắc, Trung Quốc nào ở phía Nam mà đòi tấn công phía Nam?

Trung Quốc không ở phía Nam, nhưng miếng ăn miếng uống của nó đều từ phía Nam mà về. Eo Mallaca là một tử huyệt của TQ. Chẳng hạn để thay thế một chiếc tàu dầu tải trọng 100 nghìn tấn chạy qua eo Mallaca, Trung Quốc phải dùng khoảng 30000 xe téc chở dầu, mỗi xe chở được khoảng 3 tấn, chạy quãng đường gần 1000 km qua ngả Mianma, điều này đương nhiên là bất khả thi. Thậm chí kể cả TQ có xây xong hệ thống ống dẫn dầu qua ngả Mianma và phía Trung Á, cũng không thay thế được đường vận tải qua Mallaca, vì nguồn dầu chính của thế giới là Trung Đông, chỉ có thể về TQ qua Ấn Độ Dương và xuyên qua Mallaca.

Trong điều kiện chiến tranh tổng lực, Việt Nam cần dồn lực lượng không quân lui sâu về phía Nam, và đánh đắm mọi tàu vận tải của Trung Quốc lưu thông qua eo biển. Xác định đâu là tàu TQ chỉ là vấn đề mang tính kỹ thuật, còn kiếm một cái cớ để đánh tàu thương mại trong chiến tranh cũng chẳng khó khăn gì, khi chúng ta liệt dầu vào một loại nhiên liệu quốc phòng thiết yếu. Khi đó Việt Nam sẽ bị Trung Quốc gây thiệt hại nặng phía Bắc, nhưng ngược lại, người Việt có khả năng bóp nghẹt cổ Trung Quốc ở phía Nam. Trong vòng 6 tháng, cả hai phía sẽ phải xuống thang đàm phán, kèm theo sự nghi kỵ nặng nề, mà hậu quả lâu dài TQ cũng rất khó khắc phục vì hoạt động thương mại của nó sẽ không thể bình thường trong ít nhất 20 năm. Thời gian đó đủ dài để Ấn Độ trèo lên đầu TQ, và Mỹ đủ thời gian xác lập lại trật tự mới cho khu vực.

Tác giả: Lãng.

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Chủ nghĩa cộng sản, 1 câu chuyện tình

(VXH) Có một thực tế ngược đời, là bọn tư bản ngày càng liên kết các nước với nhau thành một khối. Thậm chí như EU còn thành lập nghị viện chung, đồng tiền chung, thuế quan chung và công dân đi lại tự do giũa các nước qua Hiệp ước Schengen ...

Còn các nước khối XHCN còn lại rất chi ít ỏi của phe ta, với lời cụ Kark Marx từng dạy "Giai cấp vô sản toàn thế giới liên hiệp lại" để tiến tới sau này sẽ bỏ biên giới để xây dựng 1 thế giới đại đồng. Rứa mà 2 nước anh - em, đ/c XHCN như môi với răng, lại tranh nhau từng tấc đất, biển đảo ... với đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất, nguy cơ tranh chấp bằng quân sự có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Rồi lại phải nhờ đến tên Sen đầm quốc tế lên tiếng và can thiệp.

Chẵng lẽ bọn giẫy chết lại học và làm theo lời xưa của cụ Marx dạy, còn các nước anh em, đ/c phe ta thì ko mặc dù luôn miệng tuyên bố trung thành với chủ thuyết của cụ.

(LNO) Trên thiên đường, trong 1 giáo đường màu đỏ rất lớn, cùng với biểu tượng búa liềm vàng chóe uy nghi...

Trên ngai, Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Stalin, Trotsky, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và 1 bọn nữa đang ngồi nghe bọn thủ hạ báo cáo về tình hình dương thế.

Bọn thủ hạ còn chưa báo cáo xong, Mác đã khóc ầm lên, miệng thổ ra huyết, ngất đi, ngã lăn xuống đất. Bọn thủ hạ thất kinh, vội vàng vực vào giường nằm, cấp tốc gọi thái y đến chữa.

Hồi lâu, Mác từ từ tỉnh lại, thấy Ăng-ghen đang ngồi cạnh giường, nắm tay mình, bọn còn lại đều chầu chực xung quanh, nhất loạt nhìn mình với ánh mắt lo lắng.
Mác nói:

- Ta không thể ngờ thế sự lại khó lường quá. Bọn tưởng chết thì lại sống nhăn, liên kết với nhau trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bọn tưởng sống thì lại tan rã, chết vãn, số còn lại cũng suy thoái, biến chất đến như thế.

Đúng là không thể tin nổi! Thật kinh khủng!

Ăng-ghen nói:

- Đại ca cứ an tâm tĩnh dưỡng, khi nào khỏe hãy lo nghĩ chưa muộn.

Lê-nin nói:

- Xin phép đại ca, cho bọn em đầu thai về lại dương thế để tiếp tục hoàn thành di nguyện của đại ca.

Mác xua tay, lắc đầu, nói:

- Người đáng phải đầu thai, chịu khổ thêm 1 kiếp nữa không phải các ngươi, mà là ta.

Cả bọn giật mình, nói:

- Sao đại ca lại nói thế?

Mác nhìn rồi nắm tay Ăng-ghen thở dài, nói:

- Lẽ ra khi xưa ta và ngươi, thay vì viết Tư bản luận thì nên viết Vô sản luận mới phải.

Cả bọn cùng khóc, nói:

- Xin đại ca ra chỉ, bọn em dẫu có phải xuống địa ngục, vẫn sẽ thực hiện chỉ lệnh của đại ca.

Thế gọi là

Tưởng như khôn quá mà ra vụng
Mấy phen viết lách mất công không

Chưa biết chỉ lệnh ra làm sao, đợi hạ hồi phân giải.


Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

Vì sao Trung Quốc đánh Việt Nam năm 1979?

Khi đó, có người nói: chúng ta đánh nhau với người Việt Nam, hiện nay, những người hy sinh là liệt sĩ, sau khi quan hệ hai nước trở lại tốt đẹp, họ sẽ là gì? Tôi trả lời: "Vẫn là liệt sĩ!". Vì sao? Chúng ta phải nhìn nhận cuộc chiến này từ góc độ chính trị. Ý nghĩa của cuộc chiến này nằm bên ngoài cuộc chiến. Cuộc chiến này của đồng chí Đặng Tiểu Bình là đánh để hai người xem, một là Đảng Cộng sản Trung Quốc, hai là người Mỹ...

Về chính trị, cuộc chiến này không thể không đánh. Vì sao? Sau khi Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền, chương trình cải cách mở cửa của Trung Quốc đã được ông vạch sẵn, muốn thực hiện chương trình này phải xác lập quyền lực tuyệt đối trong nội bộ Đảng. Phải đánh một trận... Muốn cải cách phải có quyền lực. Biện pháp xác định quyền lực nhanh nhất là gây chiến tranh... Quân Giải phóng ào ạt vượt qua biên giới vào ngày 17/2. Thứ hai là người Mỹ, ý nghĩa của việc này cũng rất lớn.

Liên Xô cũng tan rã. 10 năm trước đó, Đặng Tiểu Bình đã nhận ra vấn đề này, dùng chiến tranh để vạch rõ ranh giới với các nước xã hội chủ nghĩa. Đặng Tiểu Bình, thật là một kỳ tài! Vừa rồi, tôi nói gây ra cuộc chiến tranh này vì người Mỹ, chính là trả hận cho người Mỹ. Có bằng chứng không? Có đấy. Ngày hôm trước rời Nhà Trắng thì ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình bắt đầu đánh Việt Nam. Vì sao có thể giúp Mỹ hả giận? Bởi vì, người Mỹ vừa tháo chạy nhục nhã khỏi Việt Nam. Chúng ta sao lại giúp người Mỹ hả giận? Thực ra không phải vì Mỹ, mà là vì chúng ta, vì cải cách mở cửa. Trung Quốc không thể cải cách mở cửa mà không có viện trợ của các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ. Nhờ cuộc chiến này, Mỹ đã ồ ạt viện trợ kinh tế, kỹ thuật, khoa học kỹ thuật và cả viện trợ quân sự, tiền vốn cho Trung Quốc...

Cuộc chiến này đem lại cho Trung Quốc những gì? Đó là một lượng lớn thời gian, tiền bạc và kỹ thuật. Nhờ những yếu tố này, Trung Quốc tiếp tục đứng vững sau khi Liên Xô sụp đổ. Đây là thành công vĩ đại. Thậm chí có thể nói, bước đi đầu tiên của cải cách mở cửa Trung Quốc chính là từ cuộc chiến tranh này.


—Lưu Á Châu, Trung tướng Không Quân TQ